Người Công giáo


Người Công Giáo đạo gốc được rửa tội khi còn rất nhỏ, thường là đầy tháng. Tên Thánh được nhiều người sử dụng như một cái tên Quốc Tế khi trưởng thành nếu làm việc với người nước ngoài cần lấy tên tiếng nước ngoài hay có nhiều người xuất ngoại vẫn chọn tên Thánh làm tên Quốc Tịch mới. Người Công Giáo kỷ niệm ngày lễ bổn mạng theo tên vị thánh mà mình mang như một ngày sanh nhựt thứ hai. 

Người Công Giáo được giáo dục, học giáo lý theo hệ thống từ nhỏ đến lớn, chịu các bí tích thánh thể theo nghi thức thống nhất của Giáo Hội theo trình tự như một cách xác nhận về sự trưởng thành về nhận thức giáo luật một cách nghiêm ngặt. 

Nhỏ được dạy yêu thương, lễ pháp, hiếu thảo với cha mẹ, anh em, những người trong gia đình.

Thiếu niên được dạy về các kỹ năng trong đời sống 

Thanh niên được dạy về sẻ chia, yêu thương và tha thứ

Trưởng thành được dạy về hy sinh, khiêm nhường, và tha thứ

Trước khi kết hôn còn phải học và thi xong lớp giáo lý hôn nhân với toàn bộ kiến thức rất đời.

Người Công Giáo được dạy nguyện xin bình an, sức mạnh nội tâm để vượt qua thử thách nhiều hơn nguyện xin dẹp bỏ thập tự giá đời mình. Trước khi nguyện xin luôn phải tự mình xưng tội, xám hối.

Người Công Giáo tin người chủ chăn, linh mục, đức Giám Mục bởi các vị này đều bắt đầu xin vào dòng từ năm 17-18 tuổi nên trình độ tối thiểu khi bắt đầu đã là tốt nghiệp phổ thông trung học. Sau quá trình tôi luyện và được Ơn Gọi với được Nhập Chủng Viện. Muốn được vào đây người muốn tu phải đáp ứng được các điều kiện dễ mà khó, khó mà dễ của Giáo Hội, phải được các cha chấp thuận mới được gia nhập theo học ở Chủng Viện.

Khi vào Chủng Viện, để làm linh mục giáo phận , thời gian học hỏi ở Chủng Viện là 1 năm đầu tu đức, 2 năm học triết, 1 năm đi thử,  4 năm Thần học và sau đó là năm thực tập mục vụ. Như vậy mất khoảng 9 năm ở Chủng viện để trở lành linh mục giáo phận. Nhậm chức linh mục.

Người tu dòng còn khó hơn và thời gian học, tu còn dài hơn nữa. Và khi nhậm chức làm linh mục thì phải khấn 3 lời khấn:

- Khiết Tịnh : Sống đời độc thân
- Vâng phục : Vâng lời bề trên, các cha ở chức phận cao hơn
- Khó nghèo: Từ bỏ mọi quyền sở hữu, làm chủ của cải, mọi thứ đều phải xin phép và có sự đồng ý của bề trên.

12 tông đồ của Chúa Giesu khi xưa là những người đầu tiên được Chúa truyền Chức Thánh giao trọng trách chăn dắt đoàn chiên trong buổi tiệc ly và các vị tông đồ đã truyền lại cho tới bây giờ. Vì vậy, giáo dân tôn trọng, kính nể và vâng theo các vị linh mục không phải bởi ngưỡng mộ cá nhân vị ấy mà chính là giáo dân ngưỡng mộ Chức Thánh mà Chúa Giesu đã thiết lập năm xưa. 

Các chức quyền của các cha cũng theo bậc vị kế nhiệm vị trí của các tông đồ theo Chúa khi xưa, đứng đầu là Đức Giáo Hoàng- người có quyền uy và ảnh hưởng lớn nhứt đối với giáo hội toàn cầu với hơn 1/6 dân số toàn cầu là người Công Giáo 

Chính vì quá trình học và tu tập không hề dễ dàng như vậy nên để GIẢ làm LINH MỤC không phải là chuyện dễ thực hiện đối với giáo hội lẫn giáo dân Công Giáo nếu không muốn nói là bất khả. Giả làm giáo dân đã khó huống hồ làm cha xứ. Các cha thường được học cao, hiểu biết nhiều về xã hội, khoa học, mỹ thuật, âm nhạc để chăn dắt đoàn chiên sống đời đẹp đạo, biết duy mỹ chứ không chỉ đóng cửa nhà thờ chỉ biết đời kinh kệ. 

Giáo Hội Công Giáo là một thể chế thống nhất toàn Thế Giới. Có sự đồng nhứt gần như là 1 về các giáo huấn, giáo lý, giáo luật và nghi thức và cơ cấu tổ chức theo cấp bậc, theo vùng,...hiệp thông vô cùng chặt chẽ với Giáo Hội Công Giáo Roma. 

Vì thế, dù đoàn chiên nào cũng sẽ có những con chiên lạc. Song, với niềm tin yêu, đức cậy mến được chăm dưỡng từ sơ khai, kết hợp chặt chẽ với sự dẫn dắt của các vị chủ chăn. Người Công Giáo chưa bao giờ lẻ loi. Chưa bao giờ thấy mình lạc loài giữa đoàn chiên của mình cho dù đến từ vùng miền nào, ngôn ngữ nào, sắc da nào. Nếu cùng ngôn ngữ thì già trẻ lớn bé bất kỳ lúc nào chỉ cần bắt đầu một câu kinh, hát một câu thánh ca thì tất cả đều có thể hát cùng nhau, đọc cùng nhau cho dù có lớn lên ở những nơi xa nhau đến mấy. Nếu cùng niềm tin tôn giáo, cho dù với ngôn ngữ gì thì chỉ cần đứng cùng nhau trong một buổi lễ sẽ không hề ngỡ ngàng với các nghi thức cử hành cho dù có đến từ những quốc gia khác nhau đến mấy về văn hóa và tiếng nói. 

Chính vì thế, người Công Giáo có một niềm tự hào đặc biệt về cộng đoàn của mình và đồng thời cũng có một sự tự tin đặc biệt xuất phát tự nội tâm lẫn tinh thần đoàn kết của giáo hội trong nước lẫn Quốc Tế. Chỉ cần nhìn thấy nhẫn Mân Côi trên tay, mặt dây chuyền thập giá nhỏ, vài ngôn từ khó bỏ khó thay trong lối ăn nói thường ngày vốn dĩ đã được thấm nhuần từ nhỏ đi vào máu, người Công Giáo dễ nhận ra nhau. Nhận ra nhau liền là anh-chị-em. 

Các vị chủ chăn không bao giờ rời bỏ đoàn chiên và cộng đoàn giáo dân chưa bao giờ rời bỏ vị chủ chăn. 

Đối với người Công Giáo, sống là kiếp này phải sống đáng. Chết do tự sát là tội trọng song, cái chết với người Công Giáo luôn được nhìn nhận thẳng thắn và không có gì là quá dằn vặt khi trên môi miệng của những lời kinh cầu và bất cứ buổi lễ nào cũng luôn là "cầu cho các linh hồn được nghỉ ngơi bằng an" và trong lời kinh Kính Mừng mà giáo dân đọc hằng ngày mỗi khi thức dậy, trước khi ngủ hat bất cứ lúc nào đã có câu "cầu cho con là kẻ có tội khi nầy và trong giờ lâm tử. Amen". Mỗi lần làm dấu thánh giá trên thân thể là một lần ghi lại dấu chỉ của sự chết vì tình yêu. Người Công Giáo không sợ hãi ở giờ phút lâm chung. 

Đời người ai cũng có một thập giá trên vai. Người Công Giáo vác thập giá bước đi trong đời bằng đức tin, đức cậy và đức mến. Nhận ra nhau cũng bằng dấu chỉ ấy. Đều là con chiên, người Công Giáo gọi nhau là "anh-chị-em". Là một gia đình. 

Bất cứ thể chế nào đi ngược lại với những giá trị nhân văn được xây dựng và kế thừa hàng ngàn năm qua của Giáo Hội Công Giáo thì đều sợ hãi Giáo Hội và không thích giáo dân và ghét các vị chủ chăn. 

Đó là người Công Giáo.

- Ubee Hoang -
Chia sẻ Google Plus
    Blogger Bình luận
    Facebook Bình luận

0 nhận xét:

Đăng nhận xét