Hãy quên tư duy “1 nhiệm kỳ 5 năm” vừa bắt tay vào việc đã hết thời gian

Không thể chỉ lấy yếu tố thời gian để kết thúc một nhiệm kỳ Đại hội mà phải lấy sự hoàn thành sứ mệnh cách mạng, chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra làm mốc kết thúc cho một nhiệm kỳ.

Ngày 28/1/2016, tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các đại biểu đã biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội với 3 chỉ tiêu quan trọng và 6 nhiệm vụ trọng tâm (xem Phụ lục 1).

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII:

Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”;

Ngày 30/10/2016, thay mặt Ban Chấp hành thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Đây là hai văn bản thể hiện trung thực về bản chất dân chủ, chính nghĩa cho một tổ chức Đảng của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Như vậy, phải mất gần 6 tháng để có được Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và 10 tháng để có được Nghị quyết Trung ương 4.

Sau gần 01 năm ban hành Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, 06 tháng ban hành Nghị quyết Trung ương 4. Ở cấp Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương có 12 vụ án theo dõi, chỉ đạo xử lý (xem Phụ lục 2).

Còn tại cấp Bộ, Tỉnh - Thành phố, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội vẫn đang trong giai đoạn triển khai quán triệt, học tập Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ướng 4 khóa XII của Đảng. Chưa có kết quả thiết thực nào về phòng, chống tham nhũng được báo cáo trước toàn dân.

Có hay không tình trạng Trung ương quyết tâm thực hiện còn tổ chức Đảng ở cấp Bộ, Tỉnh - Thành phố; tổ chức Đảng trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội thì lờ đờ, chậm tiến hoặc triển khai cho có hình thức ?

Tư duy “1 nhiệm kỳ 5 năm” không còn phù hợp đối với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị khóa XII của Đảng

Để có cái nhìn tổng quát, trước hết nhìn nhận khách quan về yếu tố thời gian đối với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để làm thước đo chuẩn mực cho nhiệm kỳ 5 năm, cụ thể như sau:

- Tháng 01/2016, tổ chức Đại hội đại biểu, ban hành Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.

- Tháng 02/2016, các cấp chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Đề xuất từ nay, các cấp bỏ chào mừng thành công đại hội của Đảng nói riêng, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội nói chung để tiết kiệm ngân sách quốc gia, cũng như tránh luận điệu: chưa làm được gì cho Tổ quốc, cho Nhân dân đã gây hao tổn ngân sách quốc gia là tiền thuế của Nhân dân.

- Mất 06 tháng sắp xếp nhân sự, tháng 07/2016, nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước mới thực sự hoàn chỉnh để thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.

- Mất 10 tháng soạn thảo văn bản để thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, tháng 10/2016, ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

- Mất 02 năm triển khai quán triệt, học tập các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương đối với cấp địa phương, bộ, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội:

+ Cuối năm 2017, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mới thực sự được đưa vào đánh giá phân tích chất lượng đảng viên trên toàn quốc.

+ Năm 2018, toàn Đảng mới bắt đầu thay đổi lề lối làm việc theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

- Mất 03 năm Nghị quyết mới thực sự đi vào đời sống, năm 2019 toàn Đảng mới thực sự chuyển mình theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

- Mất 01 năm cuối nhiệm kỳ chuẩn bị nhân sự mới, năm 2020, toàn Đảng triển khai góp ý Văn kiện và tổ chức Đại hội đại biểu các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

Vì năm 2020, các tổ chức Đảng cấp cơ sở tổ chức Đại hội nên rất khó để có kết quả đánh giá khách quan theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đối với cán bộ chủ chốt trong năm 2019.

Hiện nay, nhiệm kỳ Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội chưa đồng bộ, chưa tiệm cận với nhiệm kỳ Đại hội của Đảng cũng dẫn đến sự chồng chéo trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và XII của Đảng.

Nếu tính theo nhiệm kỳ 5 năm (2016 - 2020) thì Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ thực hiện được 2 năm, không đủ thời gian để đánh giá kết quả từ lý luận đến thực tiễn và đúc kết thành nguyên tắc để áp dụng trong Đảng về lâu dài.

Liệu rằng sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lấn thứ XIII của Đảng vào năm 2021 thì Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII có còn giá trị?

Toàn cảnh Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Tư duy đổi mới “Lấy kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng làm cơ sở kết thúc nhiệm kỳ”

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng là sự kết tinh quý giá từ các yếu tố tinh thần cách mạng, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng nhằm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Vì vậy, các chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra có ý nghĩa quan trọng đối với Nhân dân trong việc đánh giá năng lực, phẩm chất, đạo đức cách mạng của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức Đảng đang lãnh đạo Nhân dân.

Do đó, không thể chỉ lấy yếu tố thời gian để kết thúc một nhiệm kỳ Đại hội mà phải lấy sự hoàn thành sứ mệnh cách mạng, chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra làm mốc kết thúc cho một nhiệm kỳ.

Nhân sự chủ chốt các cấp của Đảng, của Nhà nước có thể thay đổi theo điều kiện khách quan để phù hợp với tình hình cụ thể nhưng sứ mệnh cách mạng, chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chưa hoàn thành thì đừng tổ chức Đại hội mới.

Có như vậy thì Nhân dân mới đủ cơ sở để đánh giá một cách trung thực, khách quan đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới.

Việt Nam, ngày 23/4/2017
CB’

PHỤ LỤC 1

Các chỉ tiêu quan trọng :

- Về kinh tế : Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 - 3.500 USD; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 - 34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước còn khoảng 4% GDP. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 - 35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đến năm 2020 đạt 38 - 40%.

- Về xã hội : Đến năm 2020, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 - 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 - 1,5%/năm.

- Về môi trường : Đến năm 2020, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95 - 100% chất thải y tế được xử lý; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%.

 Các nhiệm vụ trọng tâm:

(1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

(2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

(3) Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

(4) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

(5) Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

(6) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.

PHỤ LỤC 2:

1. Vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” xảy ra tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB), Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

2. Vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3. Vụ án Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, liên quan đến hành vi của Phạm Thị Trang

4. Vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” liên quan đến hành vi của nhóm Hội đồng tín dụng ngân hàng Đại Tín gồm Hoàng Văn Toàn và các thành viên khác

5. Vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” xảy ra tại Ngân hàng TMCP Đại Tín liên quan đến hành vi của Hứa Thị Phấn

6. Vụ án “Vi phạm các quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam

7. Vụ án “Tham ô tài sản”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty TNHH MTV đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội

8. Vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty cổ phần tập đoàn đầu tư xây dựng nhà đất (Housing Group)

9. Vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

10. Vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” xảy ra tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Tây Sài Gòn và Công ty TNHH Đầu tư thương mại giao dịch xuất nhập khẩu Thiện Linh

11. Vụ án “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi nhánh 6 TP Hồ Chí Minh

12. Vụ án “Đưa hối lộ” và “Nhận hối lộ” xảy ra tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi nhánh 7 TP Hồ Chí Minh.
Chia sẻ Google Plus
    Blogger Bình luận
    Facebook Bình luận

0 nhận xét:

Đăng nhận xét