Cựu tù chính trị Côn Đảo viết thư ngỏ gửi ông Trần Đức Cường - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Tôi xin tự giới thiệu về mình: Tôi tên Trịnh Phi Long, bút danh Hoàng Phương, Cựu tù chính trị Côn Đảo; hội viên Hội Cựu chiến binh, hội viên Hội Luật gia và là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

Tôi và PGS-TS chưa hề quen biết, song có đôi lần nghe một vài phương tiện truyền thông giới thiệu về PGS-TS. Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tôi có đôi chút ngưỡng mộ, nhất là với học vị của ông. Tuy nhiên, sau khi đọc bài “Nhìn nhận công lao nhà Mạc và chúa Nguyễn” trên Tuổi trẻ online ngày 18-8-2017 tôi thật sự thất vọng và có phần phẫn nộ đối với ông.

Ông Trần Đức Cường - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

PGS-TS. Trần Đức Cường cho rằng: “… Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê là lúc nhà Lê đã rơi vào khủng hoảng kinh tế, xã hội rất rõ chứ không còn như thời kỳ Lê Lợi, Lê Thánh Tông nữa. Để giải quyết vấn đề này, Mạc Đăng Dung mới làm cuộc chính biến, giành lấy chính quyền.

Không chỉ ổn định kinh tế, xã hội mà nhà Mạc còn phát triển văn hóa, giáo dục với nhiều khoa thi được mở, tìm được nhiều nhân tài cho đất nước”.

Sự thật có đúng như PGS-TS. Trần Đức Cường nói không? Hãy xem sử sách ghi chép: “… Tồn tại trong bối cảnh luôn bị sự chống đối của các cựu thần nhà Lê, nhà Mạc chỉ cố gắng củng cố mô hình tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương vốn đã khá hoàn chỉnh từ cuối thế kỷ XV… Về đối ngoại, nhà Mạc tỏ ra lúng túng. Nhân tình hình rối loạn ở nước ta, bọn phong kiến nhà Minh đã cử hai tên Cửu Loan và Mao Bá Ôn đem một đạo quân xuống, phao tin đi xâm chiếm nước ta và buộc nhà Mạc phải đầu hàng. Trước tình hình đó, Mạc Đăng Dung đã run sợ, cùng 40 viên quan, năm 1540, lên tận cửa Nam Quan nộp sổ sách và cắt 5 động ở đông bắc vốn được sáp nhập vào Đại Việt đầu thời Lê sơ, để trả lại cho nhà Minh. Nhân việc này, nhà Minh phong Mạc Đăng Dung làm An Nam đô thống sứ. Mong muốn yên mặt Bắc để tập trung lực lượng đối phó với các lực lượng cựu thần nhà Lê ở mạn Nam, Mạc Đăng Dung đã làm nhân dân và nhiều quan lại chán nản, phẫn nộ. Nhà Mạc dần dần rơi vào thế cô lập. Trong lúc đó, tệ nạn tham nhũng, hạch sách nhân dân ngày càng lan rộng và gia tăng trong hàng ngũ quan lại” (Đại cương Lịch sử Việt Nam toàn tập – chủ biên GS. Trương Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn – NXB Giáo dục, trang 338, 339 (Sđd).

Rõ ràng, người làm vua là người đại diện cho nhân dân, cho đất nước mà đầu hàng giặc phương Bắc để giữ vững ngai vàng, để rảnh tay đối phó với những người là cựu thần nhà Lê không phục tùng mình phải chăng là “khôn nhà dại chợ”, thưa ông PGS-TS. Trần Đức Cường?

Chưa hết, ông PGS-TS còn cho rằng: “Câu chuyện về các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn cũng phải đánh giá cho đúng. Chúng ta phải ghi nhận các chúa Nguyễn đã có công tổ chức cho người Việt khai phá vùng đất Nam bộ bây giờ. Sau khi lên ngôi, thành lập vương triều Nguyễn năm 1802, nhà Nguyễn đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước – sự nghiệp mà nhà Tây Sơn và người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã mở ra nhưng chưa hoàn thiện.Vua Gia Long lên ngôi đã góp phần hoàn thiện vào sự nghiệp thống nhất đất nước. Thứ hai, nhà Nguyễn củng cố bộ máy cai trị toàn quốc, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau…”.

Không như ông Trần Đức Cường và phe cánh nói như vừa nêu. Thực chất, nhân danh Hội KHLS, các ông đã trộn “lộn tùng phèo” các chúa Nguyễn và vương triều nhà Nguyễn. Chín đời chúa Nguyễn vừa nêu là có công khai phá đất ở Đàng Trong. Tuy nhiên, đến vương triều Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại các ông này đã bán cho Tây rồi còn đâu!

Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm. Quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán các vua: Gia Long đã nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn; đến các vua: Minh Mạng tiếp tục sự nghiệp do Gia Long để lại; Thiệu Trị chưa làm gì nhiều ở ngôi được 7 năm thì mất; đến các vua: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại đã hoàn toàn bán nước ta cho Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Ông Trần Đức Cường và đồng bọn đã lợi dụng công lao của các chúa Nguyễn để đề cao vương triều của Nguyễn Ánh và các vua Nguyễn như Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại là không chấp nhận được!

Nhưng Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục có nhận xét về sự giàu sang của các chúa Nguyễn Đàng Trong là: “… từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa – dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lược, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau… Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng…”. Còn nhân dân thì lầm than, đói khổ. Đây là bản chất của các chúa Nguyễn. Song đến đời Nguyễn Ánh thì tội “rước voi giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” mới được minh chứng:

Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, vua Xiêm lợi dụng cơ hội để âm mưu chiếm đất Gia Định và thôn tính Chân Lạp, đã cử Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân theo hai đường thủy bộ cùng với tàn quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Gia Định. Đêm 19 rạng ngày 20/1/1785, Nguyễn Huệ đã lãnh đạo quân và dân ta đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Còn ở Đàng Ngoài, cuối năm 1788 quân Thanh đã chiếm đóng thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tấn công quân Mãn Thanh thì Nguyễn Ánh sai sứ thần Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân lương ra giúp quân xâm lược Mãn Thanh. Trời bất dung gian, cả đoàn thuyền bị một cơn bão nhấn chìm xuống biển Đông, nhưng hành động này nói lên bản chất cực kỳ phản động của Nguyễn Ánh.

Cả quân Xiêm và quân Thanh đều bị quân và dân ta do Nguyễn Huệ lãnh đạo đánh cho tan tác còn một số ít phải trốn chạy về nước. Rõ ràng, thời Quang Trung đất nước ta đã thống nhất. Nguyễn Ánh được kế thừa sự nghiệp đó, song Nguyễn Ánh lại cầu cứu rước tư bản phương Tây đặc biệt là tư bản Pháp vào xâm lược nước ta, tròng vào cổ nhân dân ta xích xiềng nô lệ kéo dài suốt 80 năm.

Vậy mà ông Cường và phe cánh trong Hội KHLS lại khởi xướng hư cấu ra cái gọi là “mở khâu đột phá nhận thức về chúa Nguyễn, vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam”.

Chưa hết, ông Trần Đức Cường còn cho rằng: “Chính quyền Việt Nam cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc gia VN. Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm quốc trưởng, rồi trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống.

Việt Nam cộng hòa là nối tiếp của Quốc gia VN. Nhưng vấn đề phải nghiên cứu cho rõ nguyên tắc vận hành của chính quyền này là gì? Đó là một thực thể trên lãnh thổ quốc gia VN…”.

Ông Cường có biết không, khi còn chiến tranh, ở Côn Đảo có lúc Mỹ – ngụy giam giữ chúng tôi gần 10 nghìn tù nhân trong các chuồng cọp, biệt giam, phòng giam cấm cố… Vậy mà tù nhân Côn Đảo không ai gọi nhà cầm quyền Sài Gòn là “chính quyền Sài Gòn” và cũng không ai nói rằng chính quyền Việt Nam cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Hãy xem sử gia người Pháp Philippe Devillers nhận xét về cái “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại được Pháp dựng lên nhằm đối lập với chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam: nó “Chẳng phải là một nước quân chủ, cũng chẳng phải là một nước cộng hòa, cái “Quốc gia Việt Nam” này không có cơ sở nhân dân, không có Quốc hội, ngay một Quốc hội tư vấn cũng không có, không có Hiến pháp và trong nhiều năm không có cả ngân sách. Một vài cái gọi là đảng chính trị của nó chỉ là những đoàn thể, những bè phái lộng quyền, những môn khách của những nhân vật tai mắt, nó hoàn toàn phụ thuộc vào quân đội, cảnh sát và ngân khố của nước Pháp. Nó sắp sửa phát triển thành một chế độ cung đình, trong đó những âm mưu sẽ được kết cấu ngay trong lòng hoặc xung quanh “nơi cái hoàng gia” thực chất là một phòng chính trị.

Nhà vua ở đây gợi lên ấn tượng mình hầu như chỉ là một biểu tượng mà thôi. Ở đằng sau là những nơi đi săn, những sòng bạc, những đàn bà, những địa vị, đồng bạc” (Sđd., tr. 904). Còn cái gọi là “chính quyền Việt Nam cộng hòa” của ông Trần Đức Cường và phe cánh, ông Cường chắc cũng biết: Ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên lèo lái truất phế Bảo Đại lập ra cái gọi là “Việt Nam cộng hòa”. Ngày 1/11/1963, Mỹ “thay ngựa giữa giòng” chỉ đạo đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu, do Hội đồng tướng lĩnh thực hiện, đứng đầu là Dương Văn Minh. Sau một loạt cuộc đảo chánh, lật đổ nhau trong nội bộ Sài Gòn, năm 1965, Ủy ban lãnh đạo quốc gia ra đời do Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch và Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (Thủ tướng)… (Sđd., tr. 984, 1.022, 1.023). Rõ ràng, cái “chính quyền Việt Nam cộng hòa” của ông Nguyễn Đức Cường và phe cánh hư cấu thì như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng tuyên bố: “Sẽ từ chức ngày nào Mỹ ngừng viện trợ cho Việt Nam cộng hòa” (Tâm sự tướng lưu vong của Hoàng Linh Đỗ Mậu – NXB Công an nhân dân, tr. 607). Theo tôi biết, thực thể (tiếng Anh: entity) là một cái gì đó tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể hoặc như một khách thể một cách vật lý hoặc không” hoặc “cái có sự tồn tại độc lập – con người là một thực thể xã hội”. Rõ ràng, cái “quốc gia Việt Nam” hay cái “Việt Nam cộng hòa” đều là bộ máy làm thuê, làm tay sai cho Pháp, cho Mỹ chứ làm gì có thể tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể hay một khách thể hoặc cái có sự tồn tại độc lập được phải không ông Trần Đức Cường và phe cánh?

Ông Trần Đức Cường còn cho rằng: “Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam cộng hòa, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn”.

Ông Trần Đức Cường biết không: Ngụy – từ này được dùng để chỉ một triều đình hoặc một chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ và phục vụ cho sự đô hộ, xâm lược đó. Như trên tôi đã đề cập: Từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm… Nguyễn Văn Thiệu đều do Pháp và Mỹ dựng lên để tổ chức bộ máy đặt ở cái gọi là “thủ đô Sài Gòn” nhằm phục vụ cho mưu đồ xâm lược của họ, chống lại nhân dân Việt Nam thì gọi họ là ngụy quyền Sài Gòn, còn đối với những người cầm vũ khí chống lại nhân dân thì đó là ngụy quân. Gọi như vậy là tuyệt đối chính xác. Mọi người còn nhớ, khi Mỹ đổ quân vào xâm lược nước ta. Ngày 17/7/1966 , trong Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước! Đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta, nhưng chúng đang thua to. Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hóa học, bom napan… Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta…” (Thơ văn Hồ Chí Minh – NXB Giáo dục, tr. 508). Trước khi đi xa, mừng xuân Kỷ Dậu – 1969, Bác Hồ còn chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”

Rõ ràng, khi còn sinh thời Bác Hồ vẫn gọi bọn tay sai của thực dân, đế quốc là ngụy quyền, ngụy quân, trong thơ chúc Tết Người cũng nói: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tích cực thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” mà nói khác với Bác Hồ, phủ nhận tội ác, tội xâm lược của thực dân đế quốc và bè lũ tay sai là không chấp nhận được.

Luật gia, nhà báo Hoàng Phương
Chia sẻ Google Plus
    Blogger Bình luận
    Facebook Bình luận

2 nhận xét:

  1. Tôi nghĩ, tình trạng học giả, bằng giả tràn lan ở ta kéo dài trong thời gian qua, nhất là ở khu vực các cơ quan TW, có khi CÁI TIẾN SĨ CỦA TRẦN ĐỨC CƯỜNG VÀ NHIỀU ÔNG KHÁC LÀ GIẢ VẬY! Chứ tiến sĩ gì mà nói lộn hồn như thế. NÓI QUÁ TẦM BẬY

    Trả lờiXóa
  2. Tôi không có quan điểm về vấn đề này , nhưng tôi nghĩ khi tranh luận cũng không nên đao to búa lớn . Vấn đề Việt Nam nhậy cảm tôi không dám hỏi , nhưng tôi cũng xin hỏi nhà báo là Tây Đức và Hàn Quốc cũng do Mỹ và các nước bên kia dựng lên , chúng ta có nên gọi các nhà nước trên là bù nhìn , tay sai không ? Và ngày nay chúng ta thân với Hàn Quốc hơn hay Triều Tiên hơn ?

    Trả lờiXóa