Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nói gì khi chia sẻ bài viết "Người lính Ngụy ngẫm về cuộc chiến"?

Tôi chia sẽ truyện ngắn này của Nhà văn Phạm Thông, mong các nhà "sử gia", các nhà "nghiên cứu" đang sửa lại lịch sử nhằm mục tiêu kêu gọi "hoà giải , hoà hợp" dân tộc hãy đọc và hiểu sức mạnh của sự nghiệp chính nghĩa chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. 

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn

Thưa các vị chúng tôi trong chiến tranh dù rất căm thù Mỹ ngụy nhưng chúng tôi còn được Đảng, Quân đội giáo dục lòng nhân ái vị tha, khoan hồng, độ lượng, biết phân biệt đâu là lũ ác ôn, đâu là người lầm đường lạc lối, biết ăn năn hối cải nên đã không bao giờ bắn càn, giết ẩu, không bao giờ chặt đầu, mổ bụng, moi gan, uống máu kẻ thù. Ngay những lúc nguy nan giữa vòng vây của địch, khi nổ súng tử hình một tên ác ôn khát máu, chúng tôi cũng không quên để lại trên tử thi bản án của Toà án nhân dân. 

Và ngay đêm 29/3 khi vào giải phóng Đà Nẵng, tôi đã đến bắt tên Trần Quốc Dân kẻ đã gây ra cái chết của hơn 100 đồng đội chúng tôi và từ năm 1964 đã hợp tác với địch tra tấn dã man những người của ta bị dịch bắt với chức vụ Phó giám đốc Trung tâm thông tin chiêu hồi Đà Nẵng, một kẻ mà chúng tôi đang lên phương án tìm cách tiêu diệt để trả thù cho đồng đội và ngăn chặn tội ác mà hắn có thể gây ra, đang tập hợp gần 20 tên cùng hàng trăm súng ống song chúng tôi cũng không bắn chết ông ta.

Vài ngày sau tôi đã đến nhà một tên ác ôn gây ra rất nhiều tội ác ở quê tôi, trong đó có gia đình tôi trốn chạy ra Đà Nẵng, thế nhưng tôi đã động viên ông ta phải thành khẩn nhận rõ tội ác của mình để thực tâm cải tạo mau được về đoàn tụ với gia đình ... 

Sự khoan hồng và lòng nhân ái đã giúp chúng tôi vượt qua nổi thù hận để chứng minh tính chính nghĩa của cách mạng, thế nhưng theo cách giải thích của các vị đã và đang đảo ngược lịch sử, biến chúng tôi những chiến sĩ quân giải phóng miền Nam thành quân phiến loạn, biến ngụy quân, ngụy quyền thành chính thể độc lập, biến bộ đội ta từ Bắc vào Nam chiến đấu thành kẻ xâm lược, và biến cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược thành cuộc nội chiến. Để cho bọn phản động hí hửng vui mừng nhảy vào chửi rủa chúng tôi, chửi rủa Cộng sản xâm lăng, tay sai Trung Cộng ...

Cách giải thích của các vị lại được một số báo chí truyền tải, rất đau lòng trong đó có cả VOV, nói như các vị là xúc phạm đến hàng triệu người tham gia chống Mỹ cứu nước, là xúc phạm đến hương hồn của hàng triệu liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc .

Chúng tôi sẽ tiếp tục tiếng nói của những người yêu nước vì lý tưởng XHCN mà đã lên đường theo Đảng, chỉ khi nào các vị tự nhận ra sai lầm và đến thắp hương tại các tượng đài liệt sĩ sám hối về những quan điểm sai trái đã nêu thì lúc đó chúng tôi mới xem xét có dừng cuộc đấu tranh với các vị hay không? 

Và nhân đây tôi nhắc lại chúng tôi đang chờ vụ kiện mà các vị đã nói , mong các vị hãy đẩy nhanh để có một phiên toà làm rõ ai là kẻ yêu nước và ai là kẻ vô tình hay cố ý tiếp tay cho giặc.

Đồng thời tôi cũng nói rõ với đồng bào rằng: chúng tôi quán triệt quan điểm của Đảng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc chúng tôi đã khép lại nổi đau của cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược từ sau 30/41975 bắt tay đoàn kết với tất cả mọi người dù có lịch sử chính kiến khác nhau nhưng cùng chung mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã không bao giờ nhắc lại quá khứ đau buồn, song vì các vị đưa ra cách luận giải sai trái buộc chúng tôi phải lên tiếng và sự lên tiếng này hoàn toàn không nói đến những ai đã hoà nhập cùng dân tộc hơn 40 năm qua mà chỉ phê phán một số ít ai có quan điểm đảo ngược lịch sử, đổi trắng thay đen, xúc phạm vong linh, hương hồn liệt sĩ và những người đã cống hiến cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà !


*
*    *

NGƯỜI LÍNH NGỤY NGẪM VỀ CUỘC CHIẾN

Tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân trực tiếp ra lệnh tập trung quân lực quyết tái chiếm Ao Lầy, cận kề phía tây Tỉnh đường Quảng Tín. Lính cộng hòa, biệt kích, thám báo, nghĩa quân kể cả bọn biệt lập chống cộng khét tiếng ở vùng Đông cũng được điều lên dùng mọi phương cách đánh chiếm vùng đất này. Nhưng tất cả đều bị bộ đội và du kích địa phương phối hợp đánh trả quyết liệt, gây nhiều tổn thất nặng nề. Không thể cường tập công khai, Đào Mộng Xuân phải lệnh cho hạ cấp thay đổi chiến thuật. 

Hạ tuần tháng chạp năm 1972, đại đội Biệt kích do Kiều Ngọc Tuấn chỉ huy đóng quân chốt giữ cầu Bà Bầu, chiều hôm ấy được lệnh bí mật lên xe GMC chạy về ngã ba Nam Ngãi, ngoặt phía tây theo đường Tam Kỳ - An Lâu, Kỳ Sơn. Qua khỏi đèo Tư Yên, xe bất ngờ dừng lại. Bọn Biệt kích băng núi thọc về phía tây bắc, chạng vạng tối tập kết quân tại chợ Cây Sanh. Từ đây, Trung sĩ Tẩy Văn Quyền cùng tiểu đội gồm 5 tên đi mở đường dẫn cả đại đội tiến về Ao Lầy. Trong đêm tối, Quyền cùng đồng bọn lần ra xóm Hố, vượt Trường Quà, men chân đồi 30 đến Mỹ Tây sát chân đồn Trà Gó. Đoạn đường này còn dễ thở, nhưng từ Mỹ Tây đến Cốc Đôi, xóm Chùa khó khăn hơn nhiều. Ban đêm lạ nước, lạ cái mà xâm nhập vào vùng “Việt cộng”, tính mạng mỏng như lá lúa. Nào là hầm chông, lựu đạn, bom pháo cải tiến du kích cài đặt khắp lối, vướng là tan xác. Quyền còn lo sợ, ngộ nhỡ “Việt cộng” phục kích thì biết đường nào mà chống đỡ… Nhưng theo lệnh tên Tuấn Đại đội trưởng, Quyền bấm bụng lần mò tiếp cận mục tiêu. Đêm tối mịt, lọt vào địa bàn lạ cả bọn không xác định chính xác vị trí Cốc Đôi. Trong lúc đang hoang mang, tên đại đội trưởng nhìn thấy một cái chòi nhỏ đang đỏ đèn. Hắn liền cho ba tên lính vào bắt chủ nhà dẫn đường. Nửa đêm, ông Hạnh bị ba tên lính chĩa súng vào đầu buộc dẫn chúng đến Cốc Đôi. Trong thế bí, ông Hạnh đành làm người đưa đường.

Có ông Hạnh trong tay, Tuấn lầm bầm:

- Đ.M. nếu không có lão này thì biết đâu mà lần. Mấy thằng quan trên ăn sung mặt sướng, đẩy mình vào chỗ chết. May mà vớ được lão già này…

Đến nơi, Tuấn bố trí lính theo từng cụm, mỗi cụm một tiểu đội, ém quân trong một khu rừng còi, rộng độ vài ngàn mét vuông, bao quanh gốc cây Cốc.

Trong lúc chúng đang bận bố trí quân, ông Hạnh lén chạy đến gặp bà Sư báo gấp cho du kích Kỳ Nghĩa về tình hình địch. Ông lại chợt nghĩ, nếu địch biết ông rời cây Cốc sẽ lập tức thay đổi địa điểm. Bất chấp nguy hiểm, ông quay trở lại với chúng…

Bà Sư có con trai cùng toàn bộ du kích Kỳ Nghĩa đang ngủ tại nhà bà Phú, bà Thâu cách Cốc Đôi vài trăm mét. Nếu không báo kịp, địch tập kích thì thằng An con bà chết là cái chắc. Tức tốc bà sải chân chạy trong đêm tối… Bất ngờ, một quả lựu đạn nổ, bà An bị thương.

Lựu đạn nổ sát bên, du kích Kỳ Nghĩa lập tức lăn khỏi võng, phân công kiểm tra tình hình. Quang, phát hiện một bóng đen bò tới, anh tiếp cận ngay. Thì ra bà Sư vướng lựu đạn bị thương nhưng ráng bò tới báo tin cho các anh. 

Ba đồng chí trong Ban chỉ huy xã đội là Mai Xuân Quang, Hồ Văn Liệu, Phạm Thị Thanh cùng đồng chí Tiểu đội trưởng của tiểu đội thuộc V12 tăng cường cho du kích Kỳ Nghĩa, chớp nhoáng bàn phương án tác chiến.

Cốc Đôi nằm chính giữa vùng lõm Ao Lầy, phía bắc độ 600 mét là đồi ông Qui, phía nam độ 700 mét là đồi 30, phía tây nam là núi Trà Gó. Tất cả các điểm cao ấy đều là đồn địch vây quanh vùng lõm Ao Lầy. Bọn biệt kích bí mật ém quân tại Cốc Đôi là thọc dao vào bụng du kích Kỳ Nghĩa, Kỳ Thịnh. Đúng như nguồn tin của cấp trên báo trước: “Trong một thời điểm gần nhất, địch sẽ bí mật vào trung tâm vùng lõm, bất ngờ tung đòn đánh trong ra, đánh ngoài vào quyết chiếm Ao Lầy”.

Xã đội trưởng Quang quyết định:

- Ta phải tập kích địch trước lúc trời sáng!

Đêm tối mịt, Xã đội phó Phạm Thị Thanh, nghe từ một bụi cây có tiếng sột soạt, chị bấm nhỏ Tâm phát hỏa một quả B40. Lập tức 20 chiến sĩ vung lựu đạn tới tấp về phía gốc cây Cốc.

Bị đánh bất ngờ, địch tháo chạy về phía Mỹ Tây. Sau hơn một tiếng đồng hồ, được sự yểm trợ hỏa lực của các đồn Trà Gó, đồi 30, đồi Ông Qui Tuấn xua quân phản công. Mỹ Tây và xóm Chùa cách nhau mấy thửa ruộng, nhưng Kiều Ngọc Tuấn không thể xua quân tiến qua được. Các tay súng du kích Kỳ Nghĩa cùng bộ đội V12 dựa chắc công sự, đẩy lùi tất cả các đợt phản kích của địch. Mặt trời đã đứng bóng, địch gọi loa xin ngừng bắn, cho phép chúng lấy xác binh lính. Liệu bàn với Quang cho giao liên chạy qua thôn 5 Kỳ Thịnh xin ý kiến cấp trên. Anh Tư Lựu, Chính trị viên Huyện đội đồng ý ngừng bắn.

Hai bên dùng loa máy đối thoại với nhau qua cánh đồng hẹp. Ta yêu cầu chúng cho danh sách lính chết tại trận. Địch cho một cô gái chạy sang đưa danh sách. Ta cũng cho một em gái 15 tuổi tên là Mỹ sang đưa lệnh đồng ý với các điều kiện: 

- Địch cử hai chỉ huy cấp đại đội trở lên. Thông báo tên tuổi, chức vụ, mang phù hiệu, cấp hàm khi thương lượng. Ta cũng thông báo cho địch chức phận của hai cán bộ đứng ra gặp mặt chúng. 

- Mỗi bên chỉ được dẫn theo 5 người hộ tống nhưng không mang vũ khí. 

- Hai bên xếp hàng đối diện giữa cánh đồng, xác địch sẽ được trao trả tại gò mả giữa đồng.

Theo danh sách đề nghị trao trả xác chết của địch thì có năm tên chết tại trận, nhưng hiện trường chỉ có bốn xác. Xã đội trưởng Quang nhận định còn một tên nữa hoặc là đã chết hoặc là đang ẩn nấp đâu đó, lập tức phân công đi tìm. Riêng Huỳnh Ngọc Ca nhận nhiệm vụ trụ tại công sự phía sau nhà ông Hạnh, cách Cốc Đôi độ 150 mét, đối diện với Mỹ Tây để cảnh giới địch. Trên đường bám tới công sự, anh nghe có tiếng động trong bụi cây liền giương súng hô:

- Hàng sống chống chết. Giơ tay lên!

Thực ra Ca hô dọa áng chừng vậy thôi chứ chưa thấy được tên địch.

Từ trong bụi cây vang ra:

- Cứu em với anh ơi! Em bị thương rồi!...

Thì ra một tên lính bận đồ rằn ri điệp màu lá, ngồi trong bụi giơ hai tay lên trời.

Ca tỳ chắc súng lệnh:

- Không được nhúc nhích! 

Ngay tiếng nổ chát chúa đầu tiên, bốn tên lính trong tiểu đội Quyền bật ngửa tại chỗ. Quyền sống sót, nhưng bị sức ép trào máu họng, ráng bò một quãng lại bị mảnh lựu đạn xuyên qua bắp chân. Không thể chạy thoát, hắn ta chui vào bụi rậm chờ may rủi. 

Ca đã siết cò một, nếu tên địch phản ứng anh nổ súng tiêu diệt ngay. Liếc nhìn thấy ông Hạnh, ngồi cạnh miệng hầm trú ẩn, Ca gọi ông đến giúp trói tên địch. Anh giữ chắc súng nạp tới, tên địch run cầm cập, ấm ứ trong cổ họng:

- Xin anh tha cho em… Đừng bắn em…

Nhìn biển tên đeo trên ngực “Trung sĩ Tẩy Văn Quyền”, Ca nghiêm giọng:

- Anh Quyền đứng dậy! Đừng giả vờ tôi bắn vỡ sọ bây giờ. 

Quyền khập khiễng bước theo ông Hạnh vào nhà. Được tin bắt sống tên địch, Liệu - Chính trị viên xã đội đến ngay. Ca bàn giao Tẩy Văn Quyền cho anh Liệu. Trên đường đến vị trí cảnh giới Ca thầm nghĩ, giữa chiến trận sinh tử mà mình cũng làm được một việc thiện. Anh cảm thấy thỏa lòng…

Chính trị viên Liệu vớ một bao cát dưới nền nhà ông Hạnh, tròng vào đầu, Quyền bật khóc. Hắn tưởng sẽ bị ông này xử bắn...

Liệu trấn tĩnh tên địch:

- Đừng sợ, chúng tôi sẽ giải ông đến nơi an toàn sẽ có người thẩm vấn, khai thật sẽ được khoan hồng.

Quyền được áp giải đến thôn 5 Kỳ Thịnh, giao cho ông Đặng - cán bộ binh vận huyện Bắc Tam Kỳ. Anh ta ở đây gần một tuần lễ, được chăm sóc vết thương và cho ăn uống đầy đủ. Ban binh vận huyện liên hệ nội tuyến ở Tam Kỳ điều tra lai lịch của Quyền. Biết anh ta là người bị ép buộc đi lính, báo cáo huyện ủy quyết định phóng thích Trung sĩ Quyền. Tại đây Trung Định III, ông Dũng Đạt, Phó Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng huyện Bắc Tam Kỳ cho tổ chức họp dân, tuyên bố phóng thích Tẩy Văn Quyền. Ông Dũng còn dặn Quyền:

- Em về dưới đó nói với bọn tay sai là trốn thoát. Chúng nó mà biết sự thật sẽ thủ tiêu em ngay. Cứ tiếp tục đi lính, khi có điều kiện thì giúp đỡ cách mạng. Hẹn gặp lại trong ngày hòa bình…

Ông Dũng cho hai nữ du kích dẫn Quyền xuống thôn 8 Kỳ Thịnh, gửi ngủ lại nhà bà Tri ở xóm Tra, gần đường xe lửa. Ông nghĩ, bà Tri là mẹ của tên Trung đội trưởng Nghĩa quân Kỳ Thịnh, nhưng là cơ sở cốt cán của ta. Chỉ có bà mới đưa Quyền về Tam Kỳ an toàn. Quyền được bà dẫn xuống ngã ba Kỳ Lý, đón xe thồ về xóm Giếng Bốn Trụ, kịp ăn tết với mẹ và vợ con...

Sau ngày hòa bình, những người du kích Kỳ Nghĩa năm xưa không biết Quyền ở đâu. Một ngày trong năm 2003, Mai Xuân Quang ngồi lai rai trong quán nhậu. Một tiếp viên đến rót bia, nhìn bảng tên “Tẩy Thị Thu Hà” anh bỗng nhớ lại chuyện 31 năm về trước. Nghĩ họ Tẩy này ít lắm, buột miệng Quang hỏi:

- Cháu ở đâu? Có bà con chi với Tẩy Văn Quyền không?

Hà ngạt nhiên hỏi lại:

- Tại sao chú biết chú của con?

Quang cười, mời bia mà như ra lệnh:

- Uống với chú ly bia, chú sẽ nói cho nghe, chuyện dài lắm. 

Nghe chú Quang kể về chuyện của ba mình năm xưa, Hà cảm động ứa nước mắt. Cô tiếp viên thanh minh: 

- Quyền là chú của con. Cha của con là Tẩy Văn Tiết, khi đi lính thì lấy tên khai sinh của chú Quyền. 

Sau đó vài hôm, Tiết gặp lại những người bên kia chiến tuyến có tấm lòng rộng mở năm xưa, là ân nhân tha mạng, ông vô cùng cảm động:

- Thưa với các anh, năm nay tôi đã sáu mươi rồi. Trong suốt mấy chục năm qua tôi luôn ghi lòng tạc dạ những hành động nhân đạo và sự đối xử ân cần của của cách mạng đối với tôi…

Trong ngày 24 tháng 3 vừa qua - ngày kỷ niệm giải phóng Tam Kỳ, Huỳnh Ngọc Ca rủ tôi đến thăm chơi nhà Tẩy Văn Tiết. Ông Tiết năm nay đã là ông già phúc hậu 66 tuổi. Tâm sự với chúng tôi, ông chân thành:

- Ngẫm nghĩ về cuộc chiến, tôi càng thấm thía câu thơ trong chiến tranh mà những nữ chiến sĩ binh vận đêm đêm hướng loa vào đồn ngâm cho chúng tôi nghe: “…Cầm lê khuấy nước bể Đông/ Nồi da xáo thịt người trong một nhà/ Vui sướng gì đâu người lính miền Nam trong những đêm thâu/ Trong tay mình cầm cây súng Mỹ/ Bao năm dài máu chảy đầu rơi…”. Chia tay chúng tôi, ông Tiết chỉ Ca nói với mẹ già:

Mẹ sinh con lần thứ nhất. Anh này sinh con lần thứ hai đấy mẹ ạ. Ông ôm Ca, nói với chúng tôi: 

- 30 tháng 4 năm nay mời các anh đến nhà chơi. Tôi cùng các anh uống cốc rượu mừng 36 năm ngày đất nước hoàn toàn giải phóng…

Chia sẻ Google Plus
    Blogger Bình luận
    Facebook Bình luận

0 nhận xét:

Đăng nhận xét